Mời bạn dùng trà!!!

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Tài nguyên dạy học

    Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Hân hạnh đón chào quý khách ghé thăm website Trường THCS Phan Bá Phiến.
    Gốc > SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM >

    SKKN VĂN - THỦY

    1.Tên đề tài:

    PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BẰNG SƠ ĐỒ TƯ DUY Ở  MÔN NGỮ VĂN 9 TRONG TRƯỜNG THCS

     2.Đặt vấn đề:

     2.1 Tầm quan trọng của vấn đề

                    Trong quá trình dạy môn ngữ văn ở nhà trường phổ thông, tôi nhận thấy môn ngữ văn có một tầm quan trọng hàng đầu trong tất cả các môn học khác. Nói như vậy không có nghĩa là xem trọng môn này, xem nhẹ môn kia. Môn ngữ văn giúp học sinh yêu cuộc sống, quý trọng con người, yêu quê hương đất nước…….thế nhưng việc học văn và dạy văn không phải là vấn đề dễ dàng.Vậy đòi hỏi giáo viên ngữ văn phải có phương pháp giảng dạy tốt nhất mới giúp học sinh hiểu rõ và hiểu đúng vấn đề.

                  Trong nhiều năm trước đây việc dạy học chủ yếu là bằng phương pháp truyền thống “Thầy chép, trò ghi ”.Người thầy đóng vai trò trung tâm trong quá trình dạy học, học trò chủ yếu nghe và ghi chép lại việc giảng giải của thầy.Phương pháp này không những không đem lại hiệu quả mà còn tạo nên tính thụ động, chay lười trong học sinh.Trước thực trạng trên,  bộ Giáo dục dần dần thay đổi các phương pháp dạy học mới như thảo luận nhóm, lấy học sinh làm trung tâm, lồng ghép các chuyên đề vào dạy học giúp học sinh tích cực hoạt động. Đặc biệt là dạy học bằng bản đồ tư duy không những giúp các em sáng tạo, tự lập mà còn trang bị cho các em  kiến thức kĩ năng về học tập.Đồng thời chất lượng giáo dục ngày càng cao.

      2.2 Thực trạng liên quan đến vấn đề

          Trong thực tế hiện nay có rất nhiều lí thuyết thuộc các bộ môn khoa học đã đi vào tìm hiểu nghiên cứu….các lí thuyết này góp phần đáng kể vào việc đổi mới phương pháp dạy học môn ngữ Văn. Đây là phương pháp giúp cho Ngữ văn có thêm một phương tiện mới và theo đó là phương pháp dạy mới, đúng với tinh thần thay đổi phương pháp dạy hiện nay.Trong các lí thuyết thống kê, xác xuất,lí thuyết tập hợp …thì lí thuyết dạy học bằng sơ đồ tư duy là một phương pháp hữu hiệu nhất giúp giáo viên quy hoạch được quá trình dạy học và tiến tới công nghệ hoá một cách hiện đại trong quá trình dạy học trong nhà trường

          Dạy học bằng phương pháp bản đồ tư duy vào các môn học nói chung và phân môn ngữ văn nói riêng không phải là vấn đề mới đối với chúng ta .Trong quá trình giảng dạy chúng ta vẫn dùng để giải thích, phân tích, tổng hợp hoặc tóm lược lại nội dung bài, chương….Nhưng chúng ta chưa đi sâu vào vận dụng một cách đại trà nên kết quả chưa cao trong việc giảng dạy Ngữ văn .Nhiều học sinh khi học xong bài nhưng vẫn lúng túng, mơ hồ, chưa hiểu kĩ, hiểu sâu vấn đề.Chất lượng  bộ môn  không cao.

    2.3 Lí do chọn đề tài

         Qua thời gian vận dụng phương pháp bản đồ tư duy vào tiết dạy, bản thân đã rút ra nhiều kinh nghiệm và kĩ năng.Vận dụng phương pháp này vào từng nội dung, từng bài học cụ thể,  toii thấy rất phù hợp và giúp học sinh dễ hiểu bài học hơn, đạt hiệu quả cao hơn trong quá trình lên lớp.

          Đối với phân môn ngữ văn việc vận dụng phương pháp bản đồ tư duy vào bài học là đạt hiệu quả tối ưu nhất, đặc biệt là các tiết văn bản. Bởi vì sau văn bản nào cũng có phần tổng kết nhằm chốt lại nội dung bài học. Đây là điều kiện thuận lợi nhất, giúp các em thuộc bài ngay tại lớp, hiểu bài sâu hơn đồng thời tạo kĩ năng tự lập và sáng tạo cho các em sau này.

        Xuất phát từ thực tế tình hình học sinh trên địa bàn và qua kinh nghiệm giảng dạy ngữ văn 9. Bản thân tôi mạnh dạn thực hiện ý định nghiên cứu và tiến hành thực hiện phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy trong việc dạy môn ngữ văn 9 đạt hiệu quả cao.

    2.4  Giới hạn nghiên cứu của đề tài

        Trong hai năm học 2011-2012 và năm học 2012-2013, tôi đựơc  nhà trường phân công dạy bộ môn ngữ văn 9 vì vậy đối tượng và phạm vi đề tài thực hiện là môn Ngữ  văn lớp 9

          Qua thực tế giảng dạy và kinh nghiệm được học tập ở đồng nghiệp bản thân tôi đã thực nghiệm ở ba phân môn: Văn bản, Tiếng Việt và tập làm văn, nội dung ở một số bài học mà tập trung ở tập 1 và tập 2 ngữ văn 9.

    3.  Cơ sở lí luận

          Bản đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy. Đây là phương pháp dễ nhất để chuyển tải thông tin vào bộ não của học sinh  rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não. Nó là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả đối với các em đặc biệt là cấp THCS. Bản đồ tư duy  như sắp xếp ý nghĩ của các em. Giúp các em nhớ bài ngay tại lớp và còn nhớ lâu, khắc sâu kiến thức hơn.

          Trong những năm trước đây, các em ghi chép thông tin bằng các ký tự, đường thẳng, con số. Với cách ghi chép này, các em mới chỉ sử dụng một nửa của bộ não, mà chưa hề sử dụng hết  kỹ năng , nơi giúp các em xử lý các thông tin về nhịp điệu, màu sắc, không gian và sự mơ mộng. Hay nói cách khác, các em vẫn thường đang chỉ sử dụng 50% khả năng của mình. Với mục tiêu giúp các em sử dụng tối đa khả năng của bộ não, Tony Buzan đã đưa ra Bản đồ tư duy để giúp các em thực hiện tốt bài học và đem lại hiệu quả cao trong quá trình học tập và sáng tạo

       Việc sử dụng bản đồ tư duy tuy giáo viên đã thực hiện từ lâu nhưng chưa đồng nhất, học sinh còn thụ động trong việc học, chưa có tính tự lập và sáng tạo do đó cần phải thực hiện tốt, đồng bộ và triệt để việc sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học ở môn ngữ văn 9 nói riêng và các môn học khác nói chung.Chắc chắn rằng chất lượng sẽ nâng cao.Đồng thời tạo kĩ năng ban đầu cho hoc sinh cách tự lập, sáng tạo và say mê trong học tập.

    4. Cơ sở thực tiễn

    4.1             Mục đích chọn phương pháp sử dụng bản đồ tư duy vào dạy học

         Trong các môn học tự nhiên, các môn học xã hội nói chung, môn ngữ văn nói riêng. Nếu giáo viên sử dụng phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy vào bài học bằng cách hệ thống kiến thức bằng sơ đồ thì giờ dạy của giáo viên sẽ nhẹ nhàng hơn, rút ngắn được thời gian, giáo viên có nhiều thời gian để củng cố bài học, giải được nhiều bài tập đồng thời học sinh nắm được nội dung bài học, hệ thống được khắc sâu, dễ làm bài tập và đa số học sinh thuộc bài ngay tại lớp.

         4.2 Nắm bắt đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu.

             Xuất  phát từ thực trạng đa số học sinh có điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, thời gian học tập ở nhà cũng rất ít. Nhiều em đến trường không học bài cũ, chưa xác định động cơ học tập.

        Giáo viên trong tổ đã tiến hành dự giờ ở một số tiết ngữ văn 9 để nắm bắt tình hình học tập của học sinh và dạy của giáo viên.

         Trao đổi trực tiếp với giáo viên giảng dạy để tìm hiểu tình hình học tập của các em

         Phân loại học sinh khá, giỏi và yếu kém bằng cách ra câu hỏi khảo sát để nắm bắt tình hình tiếp thu của học sinh.

         Trao đổi trực tiếp với các em về động cơ học tập và sự hứng thú trong tiết dạy, phân môn ngữ văn.

         Giáo viên nghiên cứu tài liệu phương pháp sử dụng bản đồ tư duy đã được tập huấn để áp dụng vào bài học đạt hiệu quả cao.

          Tiến hành thực nghiệm bằng phương pháp sử dụng bản đồ tư duy trên các tiết dạy ngữ văn 9 tại trường THCS Nguyễn Huệ.

      Từ những thực trạng trên tôi tiến hành nghiên cứu thực nghiệm sử dụng bản đồ tư duy trong chương trình ngữ văn 9.

    5. Nội dung nghiên cứu

         Cách đây khoảng hơn 200 năm về trước trong quá trình giải toán đố, nhiều nhà nghiên cứu đã tìm ra lý thuyết grap(sơ đồ).Nhưng mãi đến năm 30 của thế kỷ XX phương pháp này mới được trình bày rõ ràng và đầy đủ trong công trình của Koing nhà toán học Hungary .Trước khi trình bày dạy học bằng phương pháp này ở trên lớp chúng ta làm quen với khái niệm của phương pháp này. Sơ đồ là gì? Thế nào là sơ đồ dạy học ?

          Sơ đồ tư duy được tạo bởi các đỉnh và biểu thị mối quan hệ giữa các đỉnh với nhau.Trong các đỉnh có mối quan hệ với nhau được nối bằng các cạnh. Đỉnh còn diễn tả kiến thức chốt của nội dung còn cung diễn tả mối liên hệ diễn xuất giữa các kiến thức chốt cho thấy logic phát triển của nội dung. Đây là sơ đồ phản ánh

     trực quan tập hợp những kiến thức chốt của một nội dung dạy học và logic phát triển bên trong đó. Để áp dụng lý thuyết sơ đồ vào việc dạy học môn ngữ văn 9 có thể mang tính định hướng (thể hiện bằng mũi tên, không định hướng. Ngoài ra còn có sơ đồ nhiều đỉnh hình cây.

                                                                

     

                                                              

                                   

                 Sơ đồ không định hướng                                      Sơ đồ định hướng                                  

         Vậy sơ đồ là tập hợp hữu hạn các đỉnh, các cạnh có đầu mút tại các đỉnh. Nhưng vấn đề quan trọng ta cần chú ý rằng sơ đồ đó có bao nhiêu đỉnh, bao nhiêu cạnh và đỉnh nào được nối với nhau chứ không phải chú ý tới những đường nối thẳng, đường cong, đường đậm….nếu bậc càng nhiều thì số cạnh nối các đỉnh càng nhiều.Cạnh càng nhiều thì cạnh càng có mối quan hệ đa dạng, phức tạp hơn. Đỉnh tập trung các kiến thức cơ bản nhất, cốt lõi nhất, đi từ cái khái quát nhất, đến cái cụ thể nhất. Các đỉnh đều có bậc, đỉnh sau có bậc thấp hơn so với đỉnh đầu (trước đó).

     

     

     

                                                                                   

                                                                                

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                              Ngoài ra còn có dạng sơ đồ tư duy  mang tính chất khái quát hơn. Bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề. Tại sao lại phải dùng hình ảnh? Vì một hình ảnh có thể diễn đạt được cả ngàn từ và giúp ta sử dụng trí tưởng tượng của mình. Một hình ảnh ở trung tâm sẽ giúp chúng ta tập trung được vào chủ đề và làm cho chúng ta hưng phấn hơn các nhánh có nhiều màu sắc tuỳ theo cách lựa chọn,  bởi vì màu sắc cũng có tác dụng kích thích não như hình ảnh.Nối các nhánh chính (cấp một) đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh nhánh cấp hai đến các nhánh cấp một, nối các nhánh cấp ba đến nhánh cấp hai,.... bằng các đường kẻ. Các đường kẻ càng ở gần hình ảnh trung tâm thì càng được tô đậm hơn, dày hơn. Khi chúng ta nối các đường với nhau, giúp học sinh hiểu và nhớ nhiều thứ hơn rất nhiều do bộ não của các em  làm việc bằng sự liên tưởng. Mỗi từ/ảnh/ý nên đứng độc lập và được nằm trên một đường kẻ, tạo ra một kiểu bản đồ riêng cho mình (Kiểu đường kẻ, màu sắc,...)
       Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường thẳng vì các đường cong được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt hơn rất nhiều. Bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm.

     
     

     

     

                       

                                

     

        

     

     

     

     

     

     

     

    Qua việc giảng dạy thực nghiệm môn ngữ văn bằng bản đồ tư duy, tôi nhận thấy rằng các em tiến bộ rõ rệt, không những hiểu bài , học tốt các bài tập trong sách giáo khoa mà còn thuộc bài ngay tại lớp. Sau đây là những kinh nghiệm qua quá trình dạy Ngữ văn  bằng phương pháp sử dụng bản đồ tư duy.

    +Đối với người thầy: Định hình bài học trước  khi đến lớp , nghiên cứu kĩ sách giáo khoa, sách giáo viên và các sách tham khảo khác có liên quan đến bài dạy

    -Lập sơ đồ  nội dung của bài chuẩn bị dạy trước trên bảng phụ ở nhà, soạn sơ đồ bài giảng hoặc Paworbing  lên lớp ( soạn giáo án).

    - Thực hiện giáo án, kiểm tra, đánh giá hiệu quả lĩnh hội của học sinh.

    + Về học sinh:Tự soạn bài mới ở nhà bằng phương pháp bản đồ tư duy, tự học bằng cách vẽ sơ đồ để tóm tắt nội dung bài học, tự kiểm tra đánh giá tình độ mình bằng phương pháp này. Sử dụng phương pháp này giúp học sinh áp dụng ở tất cả  các môn học khác như: toán, lí, hoá, sinh……

    + Các  bước giáo viên áp dụng phương pháp sơ đồ tư duy vào dạy học cho bài nghiên cứu tài liệu mới.

     * Lập sơ đồ nội dung có 4 bước

     - Cần xác định đỉnh của sơ đồ, tìm kiến thức chốt của bài lên lớp

     - Mã hoá kiến thức chốt

     - Xếp đỉnh sao cho phù hợp

     - Lập cung , tức là xác định mỗi liên hệ định hướng giữa các đỉnh

     + Triển khai sơ đồ nội dung ở trên lớp:Là khâu quyết định nhất  của quy trình là việc triển khai sơ đồ nội dung ở trên lớp khi nghiên cứu tài liệu mới.

     - Khi giảng bài theo phương pháp mới giáo viên tổ chức việc nghiên cứu từng đỉnh  một của sơ đồ  nội dung. Trên bảng lần lượt hiện lên dần dần  từng đỉnh một rồi đến cuối bài xuất hiện sơ đồ nội dung  trọn vẹn toàn bài theo đúng cách sắp xếp hình học của sơ đồ.Trong quá trình này giáo viên sử dụng phối hợp  các phương pháp và phương tiện dạy học thông thường khác.Trong quá trình vận dụng vào dạy học có những hình thức cơ bản sau:

    + Thứ nhất: Giảng và triển khai sơ đồ nội dung cho toàn   bài giảng

    + Thứ hai : Giảng và triển khai sơ đồ cho một phần của bài giảng

    + Thứ ba : Giáo viên cho trước  một nội dung thiêú, học sinh phải hoàn chỉnh

    + Thứ tư: Học sinh thảo luận nhóm bằng cách xây dựng  sơ đồ nội dung dựa  vào sơ đồ câm  qua những câu hỏi gợi ý của giáo viên.

    + Thứ năm:Bài giảng được  tiến hành dựa trên sơ đồ nội dung do học sinh tự lập trước ở nhà.

    + Thứ sáu: Học sinh lập sơ đồ cho bài học ngay từ đầu giờ dựa vào sách giáo khoa và theo sự hướng dẫn của giáo viên bằng hệ thống câu hỏi, sau đó tổ chức thảo luận nhóm, đại diện nhóm trưởng trình bày tóm tắt nội dung bài học trước lớp, các tổ khác bổ sung.Cuối giờ giáo viên đưa ra  kết quả nhằm thống nhất và chốt lại vấn đề..

    Bất kỳ sơ đồ nào cũng có tên gọi riêng nhằm để phân biệt với các sơ đồ khác.Tên của mỗi sơ đồ được xác định ở đầu bài học.Thí dụ sơ đồ phương châm hội thoại, sơ đồ giải thích nghĩa thành ngữ, sơ đồ hệ thống hoá  về hành động , phẩm chất của Vũ Nương, sơ đồ tóm tắt văn bản tự sự, sơ đồ tóm tắt trận đánh trong đoạn trích Hoàng lê nhất thống chí…. Ngoài ra trong mỗi bài học còn có rất nhiều sơ đồ mà các em đã được thầy cô hướng dẫn tóm tắt theo sơ đồ trong mỗi tiết học trong chương trình ngữ văn 9.

    Hoạt động 1:Các phương châm hội thoại” (tiếp theo) 

    Cụ thể khi chúng ta dạy bài “Các phương châm hội thoại” (tiếp theo)  ở sách giáo khoa trang 21

    -Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu, khai thác lần lượt các thành ngữ đã ghi sẵn trong sách giáo khoa, chẳng hạn:

     a. Thành ngữ ông nói gà, bà nói vịt ?Thành ngữ này dùng để chỉ tình huống hội thoại như thế nào? Thử tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra nếu xuất hiện tình huống hội thoại như vậy. Qua đó có thể rút ra bài học gì trong giao tiếp?

    - Học sinh lần lượt trả lời, giáo viên nhận xét và chốt lại vấn đề.

    b. Hay là  có thành ngữnhư :dây cà ra dây muống, lúng búng như ngậm hột thị. Hai thành ngữ này  dùng để chỉ những cách nói như thế nào? Những cách nói đó ảnh hưởng đến giao tiếp ra sao? Qua đó có thể rút ra bài học gì trong giao tiếp?

    - Học sinh lần lượt trả lời, giáo viên nhận xét và chốt lại vấn đề.

    -Cứ lần lượt như vậy giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác, tìm hiểu vấn đề. Rút ra ghi nhớ

    -Sau khi khai thác hết nội dung bài học. Giáo viên cho các em gấp sách vở lại và đưa ra bài tập củng cố kiến thức như sau.

    * Giáo viên khái quát bài học lại bằng sơ đồ, sơ đồ nội dung bài Phương châm hội thoại (tt).Dùng bảng phụ treo lên sơ đồ còn khuyết  yêu cầu học sinh hoàn chỉnh.

    Bài tập1:Vận dụng kiến thức ba phương châm hội thoại đã học điền vào các phần trống theo sơ đồ sau

     

                                                                                           

     

     

     

     

     

     

     

                                                                         

     

     

                                                                Sơ đồ chưa hoàn chỉnh  H.1    

     

        Giáo viên hướng dẫn học sinh dựa vào nội dung để điền vào sơ đồ cho đúng, học sinh chưa quen với phương pháp  tóm tắt bài học bằng sơ đồ nên giáo viên cần nêu câu hỏi gợi mở .

            - Nhận xét đánh giá sự tiếp thu của học sinh.

           -  Giáo viên treo bảng phụ kết quả hoàn chỉnh.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

                                                                 

     

     

     

     

                  

                                                                   Sơ đồ hoàn chỉnh H.2     

    Bài tập 2: Điền vào sơ đồ sau đây: giải thích các thành ngữ và cho biết mỗi thành ngữ có liên quan đến phương châm hội thoại nào?

    Thành ngữ

    Giải thích nghĩa

    Phương châm hội thoại

    -Nói như đấm vào tai

    …………………………..

    ………………………….

    …………………………..

    ………………………….

    -Nửa úp, nửa mở

    …………………………..

    ………………………….

    …………………………..

    ………………………….

    -Đánh trống lảng

    …………………………..

    ………………………….

    …………………………..

    ………………………….

    Ở  bài tập này giúp học sinh vận dụng các phương châm đã học ở phần lí thuyết và nhớ lại kiến thức ở lớp 7 bài “thành ngữ”. Để giải nghĩa thành ngữ và điền đúng phương châm hội thoại.

    -Giáo viên gọi 1 học sinh lên bảng điền đầy đủ thông tin vào bảng phụ.Yêu cầu các em ở dưới thảo luận nhóm.Sau đó cử đại diện nhóm  bổ sung, góp ý vào bài tập cho hoàn chỉnh.

            - Nhận xét đánh giá sự tiếp thu của học sinh.

           -  Giáo viên treo bảng phụ kết quả hoàn chỉnh.

    Qua hệ thống kiến thức bằng phương pháp sơ đồ tư duy học sinh  sẽ hiểu ngay bài học “Phương châm hội thoại”.Thậm chí các em nắm trực tiếp được nội dung bài học một cách sâu sắc, xuyên suốt, chặt chẽ và logic.

    Hoặc khi dạy bài”Sự phát triển của từ vựng” sách giáo khoa trang 55 (phân môn Tiếng việt)

    Đối với bài học này giáo viên hướng dẫn học sinh phân luồng kiến thức nội dung của bài học. Học sinh hiểu được  khi xã hội phát triển, từ vựng của ngôn ngữ cũng không ngừng phát triển. Giúp học sinh hiểu được hai phương thức chủ yếu phát triển nghĩa của từ ngữ. Cuối bài học kiểm tra lại kiến thức của các em bằng cách cho các em điền vào nội dung thiếu chưa rõ đỉnh và cung để sơ đồ trở nên hoàn chỉnh ( phương pháp  thảo luận nhóm).

    ………………………

    ..…………………….

     

     

                                                      Sơ đồ câm H.1    

     

                                                            Sơ đồ hoàn chỉnh H.2   

    Hoặc khi dạy văn bản “Hoàng Lê nhất thống chí” sách giáo khoa trang 64.(Văn môn văn 9- tập 1). Đây là văn bản tương đối khó đối với các em khi nắm kĩ nội dung bài học. Để nắm được nội dung bài học cần đọc lại nhiều lần nhớ  được các ý cơ bản mới có thể tóm tắt được. Giúp các em  nhớ lâu và khắc sâu kiến thức, giáo viên đưa ra sơ đồ tóm tắt khuyết như sau.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

                                                                                                                      

             

     

                                                                                        

                                                                                                                      

             

     

                                                                                                               

                                                                                                                         

     

                                                                                                                        

                                     Sơ đồ tóm tắt chưa hoàn chỉnh H1

         Khi đã hoàn chỉnh sơ đồ trên giáo viên yêu cầu một học sinh đại diện lên trình bày  cho cả lớp nghe.Yêu cầu các em vẽ sơ đồ vào vở để về nhà tóm tắt lại sơ đồ.Tôi nghĩ không những văn bản Hoàng Lê Nhất thống Chí mà trong chương sách ngữ văn THCS có rất nhiều văn bản khó hiểu đối với các em. Các em chỉ đọc qua vài lại không thể nắm được nội dung chính của văn bản được.Mà người thầy cần hướng dẫn các em tóm tắt văn bản bằng sơ đồ tư duy (như đã nêu trên) thì hiệu quả giờ học sẽ thành công hơn nhiều, các em sẽ nhớ lâu và khắc sâu kiến thức hơn. Bởi lẽ trong khi học văn bản nếu các em không nắm được nội dung bài học trước ở nhà, không tóm tắt được văn bản thì trong quá trình lên lớp thầy cô không thể có đủ thời gian cung cấp kiến thức cho các em.Hiệu quả tiết học không đạt chất lượng cao.Vì vậy dạy học theo cách vẽ sơ đồ tư duy đối với môn ngữ văn nói riêng và các phân môn khác nói chung sẽ đem lại kết quả cao trong quá trình dạy học đồng thời giúp học sinh chủ động giải quyết vấn đề nhằm phát huy tính tự  học, tự làm chủ mình

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

                 

     

     

     

     

     

     

     

     

     

                                                Sơ đồ tóm tắt  hoàn chỉnh H2

        Như vậy  việc vận dung phương pháp sơ đồ tư duy vào  dạy học môn ngữ văn 9 không phải là một vấn đề đơn giản, không phải một sớm một chiều học sinh có thể làm được. Để  thực hiện được điều này học sinh phải trải qua một quá trình tập luyện  lâu dài. Bởi đa số học sinh  ở đây còn ỉ lại trông chờ vào thầy cô giáo .Các em không chịu động não suy nghĩ. Nhiều lúc các em học thuộc bài nhưng khi thầy cô hỏi ngược lại vấn đề thì các em không trả lời được (học vẹt).Thói quen này đã hình thành ở các em ngay từ cấp I, cha mẹ không có thời gian uốn nắn. Hơn thế nữa đây là phương pháp mới đôi lúc các em hiểu nhưng không diễn giải hết được bằng câu chữ.Vậy để các em làm quen với phương pháp này phải có thời gian, qua các tiết dạy cụ thể dần dần thực hiện kĩ năng theo hướng từ dễ đến khó.

    Về phía học sinh: Để làm được điều đó yêu cầu các em phải xác định được kiến thức trong tâm của bài học, phải xác định được các đỉnh của sơ đồ theo hệ thống câu hỏi gợi mở của giáo viên đâu là cái cốt lõi nhất, đâu là bậc nhỏ hơn. Muốn hiểu vấn đề kĩ hơn khâu dặn dò phải kĩ, cụ thể rõ ràng để học sinh chuẩn bị tốt bài mới ở nhà trước khi đến lớp.Các em phải tự hình thành trước trong đầu những kiến thức cơ bản, thực hiện tốt khâu này mới đem lại thành công trong bài học đó.

    Về phía giáo viên: Phải chuẩn bị tốt nội dung bài giảng ở nhà, dùng bảng phụ để ghi nội dung bài học dưới dạng sơ đồ, bằng nhiều hình thức khác nhau.Yêu cầu học sinh hoàn thành sơ đồ.Làm như vậy vừa động não được tư duy cho học sinh, phát huy khả năng của các em, gây hứng thú trong học tập hướng tất cả các em tập trung vào vấn đề và đặc biệt hơn là giúp các em phải chuẩn bị bài tập trước ở nhà mới đến lớp thực hiện tốt được. Hơn nữa dạy học bằng phương pháp sơ đồ giúp các em sẽ tự tin hơn, chủ động hơn trong việc lựa chọn kiến thức, mạch lạc hơn trong việc lập luận, rõ ràng hơn trong việc trình bày, ít tốn thời gian và đặc biệt đem lại hiệu quả cao trong giờ lên lớp.

     Thí dụ 1 khi dạy xong  bài “Cố hương” của Lỗ Tấn ( Ngữ văn 9- tập 1), giáo viên đưa ra câu hỏi để củng cố lại nội dung bài học cụ thể như sau

    Thảo luận nhóm: Tóm tắt lại nội dung bài học bằng sơ đồ theo sự hiểu biết của em?

    Một em học sinh tóm tắt như sau

     

      Với cách tóm tắt lại bài học như sơ đồ trên giúp các em nắm lại nội dung cơ bản trọng tâm của bài học .Hơn thế nữa các em thuộc bài ngay tại lớp và còn nhớ bài lâu hơn( cả những em học yếu và kém cũng phải tập trung, động não tư duy làm bài ).

    Thí dụ 2 khi dạy bài “Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống”( tiết 99 phân môn tập làm văn 9). Đây là thể loại văn nghị luận rất khô khan với các em để các em hiểu và nắm vững kiến thức về văn nghị luận.Tìm hiểu đựơc luận điểm, luận cứ, lí lẽ  được  tác giả thể  hiện trong văn bản “Bệnh lề mề”.Giáo viên cho các em đọc văn bản sau đó nêu câu hỏi.

    Văn bản nêu  ra vấn đề gì để nghị luận ?

    Học sinh: Vấn đề: Bệnh lề mề                                                                                  

    Hỏi:  Để bàn bạc vấn đề này, tác giả đưa ra những luận điểm cơ bản nào?

    Học sinh tóm tắt luận điểm bằng sơ đồ.

                                                           4 luận điểm

     
       

     

     

     

     

     

     

     

     

               

     

          Sau khi tìm được luận điểm bằng cách tóm tắt trên, các em học yếu kém cũng dễ dàng nhận ra các lí lẽ mà tác giả nêu ra ở từng luận điểm một, qua hệ thống câu hỏi gợi ý của giáo viên.

       Hay là khi khai thác xong  phần nội dung .GV nêu câu hỏi để tìm hiểu về hình thức

    ? Em có nhận xét gì về bố cục của bài viết?

    Học sinh: Bài viết khá mạch lạc và chặt chẽ. Vì trước hết tác giả nêu hiện tượng, tiếp đến phân tích các nguyên nhân và tác hại của bệnh lề mề, cuối cùng nêu giải pháp để khắc phục.

    GV  nêu câu hỏi Thảo luận: Khái quát lại bố cục văn bản  trên qua hiểu biết của em?

    (khái quát lại bằng sơ đồ theo các ý sau: bố cục 3 phần: mở bài, thân bài, kết bài)

    Câu hỏi gợi ý? Em hãy nhân xét bố cục của bài viết?

    ? Mở bài có nêu được hiện tượng cần bàn bạc không? Thân bài  làm nổi bật vấn đề như thế nào? Kết bài như thế nào?

     Học sinh: Khái quát lại bằng sơ đồ cụ thể như sau.

     
     
     
     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Thí dụ 3:Khi dạy bài “ Viếng lăng Bác” của Viễn Phương – Ngữ văn 9 tập 2. Đây là văn bản  nhiều học sinh biết đến bởi nó được phổ nhạc từ rất sớm.Nhưng trong quá trình dạy văn bản  biểu cảm này rất khó đòi hỏi giáo viên phải tìm hiểu nhiều tư liệu, chuẩn bị thật kĩ đồ dùng dạy học( tranh ảnh về lăng Bác, những dòng người đến viếng Bác……ngoài ra còn các tư liệu khác liên quan).Đặc biệt là việc khai thác nội dung của bài rất trừu tượng và khó hiểu đối với các em do đó các em cần chuẩn bị kĩ nội dung bài soạn ở nhà trước khi đến lớp. Để kiểm tra lại kiến thức của học sinh qua tiết dạy, giáo viên cho sơ đồ sau yêu cầu các em hoàn chỉnh.

     

     

                                     Sơ đồ chưa hoàn chỉnh  H1

    Câu hỏi: Qua tiết học, em hãy hoàn chỉnh nội dung bài học hôm nay( dưới gợi ý ở sơ đồ trên)?

    Với gợi ý trên học sinh dễ  dàng tái hiện lại kiến thức đã học bằng sơ đồ tương đối hoàn chỉnh.

    Sau khi các em đã lên bảng thực hiện xong.Giáo viên gọi em khác nhận xét và bổ sung( nếu thiếu).

    Giáo viên treo sơ đồ hoàn chỉnh, gọi 1 học sinh lên bảng trình bày cho cả lớp lắng nghe.

     

     

     

                                                  Sơ đồ  hoàn chỉnh  H2

    Thí dụ 4: Khi dạy tiết 129 bài ôn tập về thơ – Ngữ văn 9, tập 2. Đây là tiết ôn tập nên đòi hỏi giáo viên phải hệ thống lại kiến thức bài học ở các tiết học trước( cả về hoàn cảnh ra đời, nội dung, nghệ thuật tập 1,2).Qua từng giai đoạn văn học( giai đoạn 1930-1945, giai đoạn 1945-1954, giai đoạn 1964-1975 , giai đoạn sau 1975).Mỗi giai đoạn khác nhau có những tác phẩm ra đời trong hoàn cách khác nhau, phù hợp từng giai đoạn lịch sử. Cụ thể như giai đoạn từ 1945- 1954 có bài Đồng Chí của nhà thơ Chính Hữu…..Để giúp các em nhớ lâu và dễ thuộc bài ngay tại lớp .Giáo viên tóm tắt bài học bằng sơ sồ sau( sử dụng kĩ thuật động não)

     

       Trong nhiều năm dạy học môn ngữ văn  bằng phương pháp tóm tắt bài học bằng sơ đồ đặc biệt hơn là qua trong hai năm thực hiện theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học ở khối 6,7,8,9. Bản thân tôi đã áp dụng phương pháp sơ đồ tư duy vào việc giảng dạy ở môn ngữ văn 9. Qua hai năm thực hiện triệt để theo tinh thần chỉ đạo của chuyên môn ở lớp 9  đã kiểm nghiệm được kết quả học sinh đạt đựơc như sau.

       6. Kết quả nghiên cứu

    * Khi chưa áp dụng triệt để  phương pháp dạy học bằng sơ đồ tư duy

    - Năm học 2011-2012 chỉ có 60 % học sinh nắm được nội dung bài học ( đa số là học sinh khá giỏi).Còn yếu và kém hầu như không nắm được nội dung, hơn thế nữa các em còn chay lười hơn trong tiết học thậm chí bỏ giờ.

    * Khi đã  áp dụng triệt để  phương pháp dạy học bằng sơ đồ tư duy

    - Năm học 2012-2013 đến nay: số lượng học sinh hiểu bài chiếm tỉ lệ cao hơn 85%.Hầu như các em đều tóm tắt được bài học và thuộc bài ngay tại lớp.Không có học sinh bỏ giờ, đa số các em chuẩn bị bài cũ ở nhà trước khi lên lớp.tiết học trở nên sinh động hơn, gây hứng thú cho giáo viên ở tiết dạy trên lớp.

    + 10% học sinh lập được  sơ đồ  nhưng chưa đầy đủ( hiểu bài nhưng chưa diễn đạt được).

    + Dưới 5 % học sinh chưa lập được sơ đồ nhưng qua sự gợi mở, hướng dẫn  của giáo viên học sinh hiểu bài và nắm được nội dung bài học.

        Vậy qua kết quả đạt đựơc ở trên chứng tỏ học sinh học ngữ văn có chuyển biến tốt .Các em có niềm đam mê và hứng thú trong khi học môn văn ở trong nhà trường nói chung và ở ngữ văn 9 nói riêng, các em tiếp thu bài tốt và nắm vững được kiến thức bài học một cách vững vàng.

    7. Kết luận

         Dạy học bằng phương pháp sơ đồ tư duy giúp cho giaó viên  vừa tiết kiệm được thời gian , vừa có thêm cách dạy học mang tính trực quan cao. Mặc khác còn giúp cho học sinh nắm bài học một cách hệ thống có logic, nội dung kiến thức trong bài học có liên quan với nhau, không biệt lập, đơn lẽ và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Học sinh dễ hiểu bài, hiểu sâu, nhớ lâu và chắc chắn.Với phương pháp này học sinh thấy rõ nội dung trọng tâm cốt lõi trong bài và dung lượng kiến thức của từng phần.Để hiểu rõ và làm đúng theo yêu cầu của người thầy giáo, một lần nữa giữa thầy và trò phải chuẩn bị kĩ những nội dung sau.

    - Đối với thầy: Phải định hình được sơ đồ bài học trong đầu (sau khi thiết kế giáo án).

    + Xác định rõ đơn vị , nội dung  kiến thức cần cung cấp.

    + Lập sơ đồ nội dung bài học trên bảng phụ hoặc soạn trên máy chiếu

    + Phân định thời gian cho từng phần.

     -  Đối với học sinh: Chuẩn bị bài mới trước ở nhà

              + Tổ chức học tổ, học nhóm ở nhà, lập sơ đồ nội dung bài học bằng nhiều hình thúc: Sơ đồ câm, sơ đồ còn thiếu thông tin…….lần lượt phân nhau điền vào cho đúng, nhóm tổ nhận xét

               + Vận dụng lý thuyết sơ đồ tư duy vào nội dung bài học sao cho phù hợp nội dung kiến thức của từng bài cụ thể. 

            Trên đây là môt vài kinh nghiệm  nhỏ của bản thân qua thực nghiệm việc vận dụng phương pháp bản đồ tư duy trong giảng dạy môn ngữ văn 9 . Rất mong được sự đóng góp ý kiến bổ sung chân thành của các đồng nghiệp  vào đề tài để bản thân học tập kinh nghiệm và giảng dạy ngày càng tốt hơn.Xin chân thành cảm ơn.

     8. Đề nghị

        Đối với nhà trường: cần có kế hoạch lồng ghép kĩ năng bản đồ tư duy vào tất cả các môn học, đặc biệt là rèn kĩ năng vẽ sơ đồ tư duy trên máy tính thông qua tiết tự chọn tin học.

      Đối với tổ chuyên môn: việc áp dụng phương pháp bản đồ là một quá trình, nó phải tiến hành thường xuyên, đồng thời cần áp dụng cho các cấp học theo một hệ thống từ thấp đến cao. Để có sự thống nhất đó, phải thường xuyên trao đổi kinh nghiệm, bàn bạc rồi đi đến thống nhất thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn ở tổ.

       Đối với học sinh: Khuyến khích các em phát huy kĩ năng vẽ bản đồ tư duy sau mỗi tiết học và học nội dung bài cũ qua sơ đồ tư duy.

     

     9.  Tài liệu tham khảo

    1. Sách ngữ văn 9 tập 1 và tập 2 nhà xuất bản giáo dục năm 2010
    2. Sách giáo viên ngữ văn 9 tập 1 và 2
    3. Bài tập thực hành lớp 9 tập 1
    4. Phương pháp dạy học Tiếng việt của  Lê A- Nguyễn Quang Minh- Bùi Minh toàn ,NXB giáo dục 1997
    5. Phương pháp dạy học của Nguyễn Ngọc Quang
    6. Tài liệu tập huấn của thầy Nguyễn văn Hải báo cáo viên Thành Phố tam Kỳ
    7. Ngoài ra nghiên cứu một số tài liệu trên Internet về cách sử dụng bản đồ tư duy

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    10. Mục lục

    MỤC

    NỘI DUNG

    TRANG

    1

    TÊN ĐỀ TÀI

    1

    2

    ĐẶT VẤN ĐỀ

    1

    2.1

    TẦM QUAN TRỌNG CỦA VẤN ĐỀ

    1

    2.2

    THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ

    1

    2.3

    LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

    2

    2.4

    GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

    2

    3

    CƠ SỞ LÍ LUẬN

    3

    4

    CƠ SỞ THỰC TIỄN

    3

    5

    NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

    3

    6

    KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    15

    7

    KẾT LUẬN

    16

    8

    ĐỀ NGHỊ

    16

    9

    TÀI LIỆU

    17

    10

    MỤC LỤC

    18

                                                                                   HUỲNH THỊ THỦY


    Nhắn tin cho tác giả
    Huỳnh Thị Thủy @ 20:09 29/08/2014
    Số lượt xem: 333
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Chào mừng quý vị đến với Website của Trường THCS Phan Bá Phiến.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Chúc bạn có một ngày thật vui vẻ, xin chào và hẹn gặp lại!